Sự cần thiết của chăm sóc mắt ban đầu toàn diện ở tất cả các nước

Ngày đăng: 27-08-2013
Images Detail News

George C Woo * OD P hD FAAO FACO

Stan ley Y Woo † OD MS FAAO

* School of Optometry, The Hong Kong Polytechnic University, Kowloon, Hong Kong

* Immediate Past  President, World  Council of Optometry

† College of Optometry, University of Houston,Houston, Texas, USA

† Past President, Texas Optometric Association, Austin, Texas, USA

E-mail: george.woo@ polyu.edu.hk

Bài báo này dựa vào  phát biểu của Giáo sư George C Woo, lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Khúc xạ nhãn khoa Thế giới, tại cuộc họp chung của Đại hội Tật khúc xạ Thế giới và Hội nghị Đào tạo Khúc xạ nhãn khoa Thế giới vào tháng 9 năm 2010 tại Durban, Nam Phi.

Chăm sóc sức khỏe mắt và thị giác toàn diện với giá phải chăng và dễ tiếp cận cho mọi công dân là mục tiêu của tất cả các nước. Lãnh đạo của nhiều nước phát triển đã giúp đỡ trong việc phát triển chính sách và những khát vọng chuyên môn của khúc xạ nhãn khoa, nhưng đã có những bài học từ những kinh nghiệm trong việc cung cấp sự chăm sóc mắt  tốt hơn ở các nước đang phát triển có những thách thức thuộc loại khác và tầm quan trọng khác. Quăng lưới rộng và phát triển đối thoại thông qua các hội và các cá nhân là những bước đầu tiên để đạt được những mục tiêu chung của chúng ta. Các cơ quan y tế siêu quốc gia, chẳng hạn Tổ chức Y tế thế giới (WHO)  và sáng kiến sức khỏe mắt toàn cầu, chẳng hạn THỊ GIÁC 2020, đã liên tục nhấn mạnh sự cấp bách phải giải quyết nguyên nhân hàng đầu của mù lòa có thể phòng tránh được ở trên thế giới và là nguyên nhân dễ chẩn đoán và điều trị nhất, đó là tật khúc xạ. Theo ước tính của WHO vào  năm 2010 thì tật khúc xạ không được chỉnh kính là nguyên nhân của khoảng 43% của 285 triệu người bị giảm thị lực ở khắp thế giới1  Vậy mà mặc dù rất nhiều cố gắng, tật khúc xạ không được chỉnh kính, bao gồm cả lão thị, vẫn còn là những vấn đề quan trọng, ngay cả ở một số nước phát triển. Nhiều yếu tố khác nhau đang góp phần vào tình trạng đáng buồn này, chẳng hạn việc không nhận thấy tầm quan trọng của  vấn đề, sự yếu  kém kinh tế của đất nước hoặc sự non nớt của các kết cấu của chính phủ, sự thiếu những người hành nghề chăm sóc mắt được đào tạo thích hợp và được phân bố đúng đắn và cơ sở hạ tầng giáo dục để đào tạo họ. Cũng có trạng thái quá thừa thãi khó hiểu của các loại nhân lực cung cấp các yếu tố khác nhau, và đôi khi chồng lên nhau, của chăm s óc s ức  khỏe  mắt  và  thị  giác. Vấn đề không được cải thiện khi trên thế giới còn có nhiều mô hình đào tạo chính qui và phạm vi thực hành khác nhau cho 2 ngành chính của chăm sóc sức khỏe mắt và thị giác, đó là khúc xạ và nhãn khoa.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TIẾN LÊN TỪ CÁC BIỆN PHÁP  LẤP CHỖ TRỐNG?

Chúng ta đều biết rằng tật khúc xạ không được chỉnh kính, và thực ra là mù lòa có thể phòng tránh được và giảm thị lực nói chung, không chỉ là một vấn đề đối với cá nhân bị bệnh mà nó còn có ảnh hưởng sâu sắc cho gia đình, cộng đồng và xã hội về mặt mất cơ hội cá nhân và giáo dục, và giảm hiệu quả kinh tế. Chúng ta không có gì khác ngoài ca ngợi công việc của Quĩ hỗ trợ Khúc xạ nhãn khoa Thế giới và  các tổ chức khác đã nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề tật khúc xạ không được chỉnh kính, và đã khởi xướng những dự án cung cấp sự chăm sóc mắt miễn phí hoặc giá cả phải chăng trong khả năng của người nghèo. Các sáng kiến này là cần thiết, nhưng  chúng  ta  hi vọng rằng trong tương lai, dịch vụ chăm sóc mắt ban đầu chính thức sẽ được cải thiện đến mức sự giúp đỡ cho họ là không cần thiết nữa. Mô hình lí tưởng này sẽ cần phải nhiều năm mới đạt  được, nhưng chúng ta hi v ọng rằng các chính phủ và các nhà hoạch định chính sách sẽ không trở thành phụ  thuộc  vào những biện pháp lấp chỗ trống này, cho dù hiện  tại chúng  thích hợp và hiệu quả đến đâu nữa trong việc cải thiện y tế. Thay vào đó, chúng ta hi vọng nhìn thấy các chính phủ và các nhà hoạch định chính sách dựa vào những dự án “băng bó” này đ ể phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiệu quả, bao gồm chăm sóc sức khỏe mắt và thị giác toàn diện, dễ tiếp cận, và giá phải chăng cho tất cả mọi công dân của mình. Cuối cùng, dường như là vô lí và thậm chí là bất  thường đối với các nước mãi mãi dựa  vào những người tình nguyện ở địa phương được đào tạo tối thiểu. Các chính phủ và các nhà hoạch định chính s ách phải suy nghĩ và có kế hoạch trước cho một giải pháp lâu dài, bền vững để cải thiện y tế cho người dân, lực lượng lao động hiện tại và tương lai của họ, nếu có bao giờ họ muốn cải thiện tình hình kinh tế của đất nước và chất lượng sống cho công dân của mình.

ƯU TIÊN CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU!

Ngày càng có nhiều nước, bao gồm các nước phát triển, đã bắt đầu nhận thấy những lợi ích về mặt y tế và tài chính của việc nhấn mạnh việc phát triển hơn nữa các chương  trình dự phòng và phục hồi chức năng trong các hệ thống chăm sóc y tế của mình do việc xây dựng và và chi phí hoạt động cao hơn nhiều của cơ sở hạ tầng và nhân lực chăm sóc điều trị ở tuyến hai và tuyến ba. Chăm sóc y tế ban đầu đã trở thành một ưu tiên cao hơn và chăm sóc mắt ban đầu là lĩnh vực của khúc xạ nhãn khoa.

Năm 1993, Hội đồng Khúc xạ nhãn khoa Thế  giới (WCO) đã  thông qua tuyên bố khái niệm khúc xạ nhãn khoa trong đó khẳng định khúc xạ nhãn khoa là một nghề độc lập, có đào tạo và được quản lí. WCO định nghĩa khúc xạ viên là những người hành nghề chăm sóc sức khỏe ban đầu của mắt và hệ thống thị giác, cung cấp sự chăm sóc mắt và thị giác toàn diện, bao gồm khám khúc xạ và cấp kính, phát hiện/chẩn đoán và điều trị bệnh mắt, và phục hồi chức năng các bệnh của hệ thống thị giácTổ chức Y tế thế giới công nhận khúc xạ viên là những người làm chuyên môn chăm sóc mắt cùng với các bác sĩ mắt và các nhân viên khác trong ngành nhãn khoa.

Cụm từ chủ  yếu ở đây là  “nhữngngười hành nghề chăm sóc sức khỏe ban đầu của mắt và hệ thống thị giác cung cấp sự chăm sóc mắt và thị giác toàn diện.” Khúc xạ viên cũng có khả năng chăm sóc mắt của tuyến hai và tuyến ba, chẳng hạn chăm sóc khiếm thị và, tùy theo phạm vi thực hành của mình, cũng dùng các thuốc để điều trị một s ố bệnh mắt. Khúc xạ viên không chỉ liên quan đến sức khỏe của mắt và thị giác. Khúc xạ viên là những người làm chuyên môn “chăm sóc sức khỏe” ban đầu và, thí dụ, có khả năng phát hiện  bệnh đái tháo  đường  ở những bệnh nhân và góp phần vào việc điều trị bệnh này.

SỰ LỘN XỘN CỦA CÁC TIÊU CHUẨN GÂY NGUY HẠI CHO Y TẾ 

Chúng ta hiểu rằng các nước đang phát triển có thể thiếu ngân quĩ, cơ sở hạ tầng và chuyên môn để đào tạo khúc xạ viên của mình ngay bây giờ, nhưng họ không nên thiếu ý chí cải thiện sức khỏe của người dân của mình  trong tương lai. Lấy thí dụ ở Trung quốc. Chúng ta nghĩ rằng Trung quốc có thể làm hơn rất nhiều cho sức khỏe mắt và thị giác của người dân của họ, nhưng nó bị kìm lại bởi bản chất đặc biệt và rời rạc của việc cung cấp sự chăm sóc mắt ban đầu của họ. Có một loạt các chương trình giáo dục khó hiểu liên quan tới khúc xạ nhãn khoa  với những  tiêu chuẩn và thời gian khác nhau, và có quá nhiều bộ tham gia vào các khía cạnh khác nhau của việc đào tạo và y tế gắn với khúc xạ nhãn khoa. Nhiều chương trình cấp bằng liên quan đến khúc xạ nhãn khoa nhưng trên thực tế lại là những khóa học y học hoặc kĩ thuật quang học. Cũng có một phân loại lớn các chương trình đào tạo ngắn hạn của các tổ chức khác nhau dành cho những người đang hành nghề liên quan đến khúc xạ nhãn khoa.

Kết quả của tất cả những yếu tố này là sự lộn xộn về năng lực của nhân lực khúc xạ nhãn khoa và đáng lo ngại hơn là nó tạo ra những lỗ hổng trong việc cung ứng, chất lượng và tính an toàn của chăm sóc mắt ở trong nước. Điều này cũng đang  xảy ra ở nhiều nước khác trên thế giới. Sự tồn tại vô số tiêu chuẩn và khái niệm khác nhau của khúc xạ nhãn khoa hoặcmcông việc khúc xạ nhãn khoa là một rào cản đối với việc chăm sóc mắt ban đầu toàn diện thực  sự. Rút cục, nó lừa bịp dân chúng và cho họ một cảm giác an toàn giả dối nguy hiểm bởi vì, thí dụ, một khúc xạ viên được đào tạo chỉ để phát hiện và chỉnh tật khúc xạ và không có gì khác. Một khúc xạ viên không được đào tạo để phát hiện bất kì bệnh nào khác chẳng hạn đái tháo đường, nhưng làm sao dân chúng biết được điều đó, bởi vì tất cả những người khám khúc xạ đều được gọi là  “khúc  xạ  viên”? Đau xót hơn nữa, dân chúng liệu có được yêu cầu biết sự khác nhau giữa tất cả các loại nhân lực khúc xạ nhãn khoa? Tất nhiên là không, ấy vậy mà dân chúng lại được đặt vào vị trí bất khả thi này!

TẠO RA MỘT NHẬN DẠNG NGHỀ NGHIỆP NHẤ T QUÁN 

Ở các nước và các lãnh thổ mà khúc xạ nhãn khoa được pháp luật bảo vệ như là một nghề độc lập, thường có một hệ thống đăng kí để phân loại nhân lực khúc xạ nhãn khoa dựa vào bằng cấp, sự đào tạo và kinh nghiệm chuyên môn. Các hệ thống đăng kí thường thích nghi với những người hành nghề lớn tuổi đáp ứng những yêu cầu về đào tạo và kinh nghiệm trong thời kì của họ. Thành thực mà nói, các hệ thống đăng kí này với một số phân loại người hành nghề chỉ có ích cho những người trong ngành y tế, không phải cho dân chúng nói chung. Chẳng hạn, ở Texas mức độ cao nhất của giấy phép là TG, nghĩa là chức danh “Chuyên gia glôcôm khúc xạ” (OGS). Nhãn hiệu OGS không thể truyền đạt bằng trực giác vai trò chăm sóc mắt ban đầu của một khúc xạ viên có giấy phép điều trị. Các hệ thống đăng kí là hoàn toàn cần thiết nhưng không phải là lí tưởng. Bởi vì mối liên kết lịch sử chắc chắn giữa kính và chăm sóc mắt trong đầu của hầu hết dân chúng, họ vẫn tin rằng tất cả khúc xạ viên, bất kể thuộc phân loại nào, chỉ chỉnh tật khúc xạ. Họ đánh đồng tất cả khúc xạ viên với những  kĩ thuật viên kính hoặc những người đo khúc xạ và chỉ đến gặp khúc xạ viên nếu họ nghĩ rằng mình cần một cặp kính gọng hoặc kính tiếp xúc. Quan niệm sai này dường như cũng ảnh hưởng đến cách mà các nhà hoạch định chính sách, các nhà chuyên môn y tế và những người hành nghề y tế khác trên khắp thế giới, bao gồm Bắc Mĩ, nghĩ về khúc xạ nhãn khoa và sự hòa nhập của nó thế nào vào hệ thống chăm sóc y tế. Nó tác động tiêu cực đến cách họ đề cập đến khúc xạ nhãn khoa như là một nghề nghiệp. Quan niệm sai này cản trở sự chăm sóc mắt ban đầu và do đó ảnh hưởng đến cả y tế.

Làm thế nào để chúng ta khắc phục được vấn đề này? Trong tương lai, chúng  ta  mong  muốn rằng  khúc xạ viên ở tất cả các nước và các lãnh thổ là những người tốt nghiệp các khóa có bằng  cấp  chuyên về khúc xạ nhãn khoa và được xếp loại ở mức cao nhất của hệ thống đăng kí hành nghề y tế của nước họ. Nhân lực khúc xạ nhãn khoa ở các mức thấp không nên được gọi là “khúc xạ viên có đăng kí.” Thay vào đó, nên gọi họ là ‘kĩ thuật viên kính’ hoặc ‘người đo khúc xạ’ để phản ánh chính xác hơn phạm vi thực hành của họ. Bằng cách này, sẽ không còn sự lẫn lộn giữa chăm sóc mắt ban đầu toàn diện là gì và ai có thể chăm sóc mắt ban đầu, so với chỉ một khía cạnh của  chăm sóc  mắt ban đầu như tật khúc xạ.

Ý CHÍ CHÍNH  TRỊ LÀ THEN CHỐT

Trung quốc có thể có chăm sóc mắt ban đầu  đẳng cấp  thế giới, giá  như người ta đã quyết định muốn nó.

Điều này nghe có vẻ giản dị thái quá hoặc thậm chí rất khó tin, nhưng đã có một tiền lệ ở Trung quốc. Nó xảy  ra với nghề vật lí trị liệu, khi Trung quốc dành được quyền đăng cai Thế vận hội mù hè 2008. Ở thời điểm đó, vật lí trị liệu gần  như không  tồn tại ở Trung quốc. Nhưng chính  phủ  quyết  định rằng cần phải cải thiện mạnh mẽ các tiêu chuẩn và tính sẵn có của vật lí trị liệu để phục vụ sự kiện đem lại uy tín này. Do đó, chính phủ quyết định xem xét lại toàn bộ việc đào tạo vật lí trị liệu và việc hành nghề này trên cả nước  bằng cách làm  việc với các chuyên gia phục hồi chức năng ở Đại học  bách khoa Hong Kong.  Ý chí chính trị là mấu chốt để đem lại sự thay đổi.

BỆNH  MẮT ẢNH HƯỚNG  ĐẾN  TẤT CẢ  MỌI  NGƯỜI

Làm thế nào chúng ta có thể thuyết phục được các chính phủ coi trọng hơn nữa việc chăm sóc mắt ban đầu? Họ đã biết được tầm quan trọng và hậu quả kinh tế của mù lòa có thể phòng tránh được và giảm thị lực, vậy mà tại sao họ không hành động để giúp cho người dân của mình? Tôi nghĩ chúng ta phải nhấn mạnh rằng trong số tất cả các loại bệnh mà con người có thể mắc phải trong đời thì bệnh mắt hoặc thị giác là vấn đề sẽ ảnh hưởng tới hầu như tất cả mọi người chúng ta ở một thời điểm nào đó. Thí dụ, hầu như tất cả mọi người đều  bị lão  thị khi đến tuổi trên 40.

SỰ GIÚP  ĐỠ SẴN SÀNG  CỦA HỘI ĐỒNG  KHÚC XẠ NHÃN KHOA THẾ  GIỚI 

Chúng tôi cũng có thể giúp các chính phủ thiết lập các dịch vụ chăm sóc mắt ban đầu và các chương trình bằng cấp về khúc xạ nhãn khoa. Sự giúp đỡ có thể dưới dạng hợp tác của các tổ chức hoặc chia sẻ kiến  thức bởi khúc xạ viên riêng lẻ, thí dụ, qua chương trình học bổng của WCO3  Chúng tôi thúc dục mạnh mẽ tất cả các khúc xạ viên tìm hiểu cơ hội độc nhất này, đặc biệt là những người mới tốt nghiệp và những khúc xạ viên đã nghỉ hưu. Như Peace Corps hoặc Teach for America (bộ phận của  AmeriCorps ), các chương  trình  phục  vụ  bởi các nhà chuyên môn tài năng có thể có ảnh hưởng to lớn tại địa phương và cung cấp một cơ hội suốt đời để mở rộng phạm vi hiểu biết của mình. Trong khi chờ đợi, chúng tôi cũng thúc giục mạnh mẽ các nước sử dụng “Mô hình Phạm vi Thực hành Khúc xạ nhãn khoa Dựa vào Tiêu chuẩn năng lực Toàn cầu” của WCO4 và tuyên bố cốt lõi đi kèm “Khúc xạ nhãn khoa Thế giới - Tăng cường thị lực, Bảo vệ sức khỏe” như là một cơ cấu được quốc tế chấp nhận để dựa vào đó tạo ra hoặc cải thiện dịch vụ khúc xạ nhãn khoa của  mình ở tất cả các cấp và các chương trình đào tạo chính qui về khúc xạ  nhãn khoa. Mô hình tiêu chuẩn năng lực và tuyên bố cốt lõi có 2 mục tiêu: giúp tạo thuận lợi cho sự lưu động khúc xạ viên giữa các nước vì lí do công ăn việc làm, như là một phần của sự lưu động nhân lực chuyên một trên toàn cầu đã được dự tính bởi Tổ chức Thương mại Thế giới, và để đẩy mạnh hơn nữa sự hòa hợp trong đào tạo khúc xạ nhãn khoa trên khắp thế giới. Nó cho phép các chính phủ, các nhà hoạch định chính sách, các quan chức y tế, các nhà chuyên môn y tế và sức khỏe, nhân viên chăm sóc mắt và bất kì các bên liên quan nào khác so sánh một cách khách quan các phạm vi thực hành khúc xạ, và do đó kiến thức và kĩ năng của nhân viên, những người đang làm công việc khúc xạ nhãn khoa. Mô hình tiêu chuẩn năng lực và tuyên bố cốt lõi của chúng tôi có thể dùng làm chỉ dẫn cho các chính phủ để thiết kế việc cung ứng chăm sóc mắt ban đầu một cách có hệ thống và có tổ chức tùy theo mục tiêu, nhu cầu, nguồn lực, và hoàn cảnh của mình.

REFERENCES

1. World Health Organization [Internet]. Geneva. New Estimates ofVisual Impairment  and Blindness. Available from: http://www.who.int/blindness/en/index.html. [Accessed 2012].

2. World Council of Optometry. Concept of Optom¬etry [monograph on the Internet]. United Kingdom; 1993. Available from: http://www. worldoptometry.org/en/utilities/document - summary.cfm/docid/37212A64 -1EDA -4004-/932FC4D71189A718  [Accessed2012].

3. World Council of Optometry [Internet]. United Kingdom. Fellowship P rogramme 2012. Available from:  http://www.worldoptometry.org/en/WOF/ projects/fellowship.cfm [Accessed 2012].

4. World Council of Optometry. Global Competency Model [mono graph on the Internet]. United Kingdom; 2005. Available from: http://www. worldoptometry.org/en/utilities/document - summary.cfm/docid/1D1FB679 -293B-4BB6- /757BAFC22B688D  [Accessed2012].

5. World Council of Optometry. Case Statement [monograph on the Internet]. United Kingdom; 2005. Available from: http://www.worldoptometry. org/en/utilities/document -summary.cfm/docid/74E80E5A-B15A-4BD2-AB493E163492EC2C [Accessed 2012].