Trường hợp về tật khúc xạ: Đánh giá về tật khúc xạ và tổn hại thị giác ở trẻ em

Ngày đăng: 02-09-2012
Images Detail News

Leon B. Ellwein PhD

(Dịch và cung cấp bởi Quỹ Fred Hollows Việt Nam)


 

  Hội nghị dự thảo không chính thức của Tổ chức y tế thế giới diễn ra vào tháng 7/2000 đã chỉ ra rằng sự so sánh chi tiết về tỉ lệ tật khúc xạ thông qua các báo cáo nghiên cứu nhìn chung không thể thực hiện được vì không có phương pháp đánh giá và định nghĩa chung làm cơ sở cho việc so sánh. Thêm vào đó, vì hầu hết các nghiên cứu sử dụng các ví dụ không rõ nguồn gốc nên việc lý giải dựa trên dân số gặp nhiều vấn đề khó khăn.
 
Nghiên cứu RESC
  Một chuỗi các cuộc khảo sát dựa trên dân số về tật khúc xạ và tổn hại thị giác có liên quan ở những trẻ độ tuổi đến
trường được tiến hành ở năm vùng địa lí khác nhau. Các cuộc khảo sát tật khúc xạ ở trẻ em (RESC) này bắt đầu vào năm 1998, được tiến hành ở huyện nông thôn ở tây Nepan; một hạt nông thôn ngoại ô Bắc Kinh, Trung Quốc; một vùng thành thị của Santiago, Chilê; một huyện nông thôn gần Hyderabad ở nam Ấn Độ; một vùng thành thị của New Delhi ở bắc Ấn Độ. Cuộc khảo sát thứ sáu mới được tiến hành ở Durban, nam phi. Các cuộc khảo sát còn lại đang nằm trong kế hoạch
Mỗi cuộc khảo sát được tiến hành trên 5.000 trẻ em ở độ tuổi từ 5 đến 15. Địa điểm cư trú của các nhóm trẻ em này là các vùng nông thôn có biên giới làng và các khối phường cộng đồng thành thị. Qui mô ví dụ được thiết kế theo cấp độ tuổi và giới tính cụ thể của trẻ.
 
Khám lâm sàng
 Ở mỗi cuộc nghiên cứu, một nhóm trẻ em được chọn ngẫu nhiên để kiểm tra lâm sàng tại một hoặc nhiều địa điểm trong cộng đồng. Qui trình kiểm tra bao gồm đo thị lực nhìn xa sử dụng đồ thị LogMAR 'E' sáng ở khoảng cách gần và xa, sự đánh giá vận nhãn với bài kiểm tra che mắt và bỏ che để khám lác, sự giãn nở điều tiết với chất làm giãn nở đồng tử và điều tiết, soi bong đồng tử theo vạch khe sáng, khúc xạ tự động với Retinomax K-Plus cầm tay, khúc xạ chủ quan cho những trẻ bị tổn hại thị giác từ trước đến nay không được khám chữa bệnh, kiểm tra thể thủy tinh, dịch kính và đáy mắt bằng đèn khe và máy soi đáy mắt trực tiếp. Nguyên nhân chính của tổn hại thị giác với thị lực là 6/12 hoặc thấp hơn ở mỗi trường hợp được bác sĩ kiểm tra ghi chép lại  
 
Kết quả so sánh
  Thị lực ở nhóm không điều chỉnh < 6/18 ở mắt tốt hơn chiếm từ 0,46% đến 3,25% (số liệu 1). Ở những trẻ đã chỉnh thị lực bằng kính đeo thì tỉ lệ thị lực <6/18 ở mắt tốt hơn biến thiên trong khoảng 0,42% ở Nepan đến 1,79% ở Trung Quốc. Với nhóm trẻ được điều chỉnh thị lực tốt nhất, tổn hại thị giác giảm ổn định, biến thiên trong khoảng từ 0,09% ở Trung Quốc đến 0,28% ở nông thôn Ấn Độ. Sự khác biệt giữa  thị giác hiện tại và thị giác không điều chỉnh phản ánh số lượng tật khúc xạ đã được điều chỉnh xong, trong khi sự khác nhau giữa thị giác hiện tại và thị giác đã điều chỉnh tốt nhất phản ánh tật khúc xạ vẫn còn là vấn đề tàn tật thị giác. Tỉ lệ tổn hại thị giác với sự điều chỉnh khúc xạ tốt nhất tượng trưng cho mức độ mất thị giác do các nguyên nhân khác mang đến ngoại trừ tật khúc xạ.
  Mặc dù một vài tật khúc xạ do tổn hại thị giác nghiêm trọng đã được điều chỉnh bằng kính đeo mắt nhưng cũng với số lượng đó các tật khúc xạ có thể điều chỉnh được vẫn không được điều chỉnh (số liệu 2) ở tất cả năm vùng nghèo nhất mỗi nước.
  Tật khúc xạ ở nhóm tuổi này thường do cận thị chiếm tỉ lệ tương đối cao ở trẻ em Trung Quốc (số liệu 3). Mặc dù quan hệ giữa thị lực không điều chỉnh và tật khúc xạ chưa được làm rõ nhưng những trẻ có tỉ lệ tổn hại thị giác tương đối cao theo dự đoán sẽ dẫn đến tỉ lệ tật khúc xạ lớn. Tỉ lệ viễn thị (viễn thị: +3,00 đi ốp công suất cầu tương đương hoặc hơn ở một trong hai mắt) chiếm tỉ lệ đặc biệt cao ở Chilê là 5,55%, ngoài ra tỉ lệ viễn thị và loạn thị cũng tương đối cao (không có số liệu). Các thông tin khác đề cập đến tỉ lệ tuổi và giới tính của những trẻ cận thị và viễn thị nằm ở báo cáo gốc. 2-7
 
Kết luận
  Các nghiên cứu so sánh này chứng minh rằng tỉ lệ cận thị và viễn thị biến đổi đáng kể tùy vào địa lí. Ngoài ra nó cũng chứng minh rằng tổn hại thị giác hoàn toàn do tật khúc xạ ở nhóm tuổi này có thể điều chỉnh được sẽ thay đổi về hình thức tương ứng. Thật đáng tiếc, có lẽ một nửa trường hợp trẻ bị tổn hại thị giác dẫn đến tật khúc xạ điều chỉnh được vẫn không được điều chỉnh- ít nhất là trong số những trẻ ở độ tuổi đến trường ở các vùng nghèo nàn. Ở mức độ mà các số liệụ này đại diện cho trẻ em ở các vùng địa lí, các dân tộc cũng như các nền văn hóa khác nhau thì thị lực giảm sút vì tật khúc xạ không điều chỉnh là một vấn đề sức khỏe công cộng quan trọng. Các chiến lược hiệu quả kinh tế là rất cần thiết để loại trừ tật khúc xạ không điều chỉnh- nguyên nhân của tàn tật thị giác, đặc biệt trong những năm đầu đời của trẻ.