Nhân một trường hợp co quắp mi

 

I. THÔNG TIN VỀ BỆNH NHÂN

 

1. Hành chính: bệnh nhân  nữ, 60 tuổi, nội trợ.

 

2. Lý do đến viện: nhắm mắt không chủ động, cả hai bên, cảm giác khó chịu.

 

3. Bệnh sử và tiền sử dùng thuốc: đang đeo kính đọc sách, không có TS chấn thương, không có bệnh tại mắt.

 

4. Thăm khám thực thể

- Thị lực:

            *Thị lực nhìn gần = 2/10

            *Có chỉnh kính = 10/10

            *Thị lực nhìn xa = 9/10

- Bán phần trước: bình thường (không có loét, không có khô mắt, không cương tụ).

- Bán phần sau: bình thường.

- Lông mi, lông mày: sa da mi người già, tăng trương lực cơ vòng mi, hẹp khe mi nhẹ.

- Điều kiện khởi phát: khi có ánh sáng mạnh, stress.

- Biểu hiện bệnh thuyên giảm khi tập trung vào việc gì đó.

 

5. Chẩn đoán

- Các  BS chuyên ngành lão khoa và thần kinh cho rằng:

            + Chẩn đoán: co cơ mặt, rối loạn trương lực cơ cùng mặt.

            + Các thuốc đã được kê toa: Apersone, Bonecare, Lomzi, Biolamine, Flavitol, Oxetol…

             + Kết quả: không có tiến bộ nào đáng kể.

 

- Chẩn đoán của chuyên khoa mắt: co quắp mi ( Tic).

 

6. Điều trị chuyên khoa mắt

- Điều trị thuốc men: nước mắt nhân tạo, Magne B6, giãn cơ.

- Sau một tháng điều trị không có kết quả, BN được chuyển đi điều trị châm cứu nhưng cũng không có kết quả.

- Điều trị bằng phẫu thuật cắt bớt khối cơ vòng mi, phần mi và hốc mắt, kết quả khả quan.

 

II. CO QUẮP MI THEO CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐƯỢC

 

1. Định nghĩa theo Y văn

- Nháy mắt hoặc nháy mắt từng lúc: đó là những cử động co quắp có tính chất khu trú và thường xuyên, hay xảy ra với các cơ vùng mặt.

- Apraxia: không có khả năng làm các cử động có chủ đích trong khi không hề bị liệt cơ hay mất cảm giác.

- Co quắp mi: là một bệnh lý mạn tính đặc trưng bởi những cử động co cơ vô thức (tính lặp lại) hay tăng trương lực cơ vòng mi gây nhắm mắt cả hai bên (tính bền vững).

- Co cơ vùng mặt: là hội chứng đặc trưng bởi những co thắt cơ mang tính tự phát của một hay nhiều cơ ở một phía của mặt.

 

2. Dịch tễ học

- Hay phát triển trên người > 50 tuổi.

- Tỷ suất nữ so với nam: 2:1.

- Tỷ lệ mắc trong quần thể: 5/100,000.

 

3. Đặc điểm lâm sàng

- Cảm giác chủ quan:

+ Khó chịu, cảm giác có sạn ở trong mắt.

+ Nháy mắt quá nhiều, đôi khi thấy mi bị co chặt.

+ Các cử động vô thức của mi mắt gây nhắm mắt, tăng dần về cuối ngày.

- Điều kiện khởi phát: khi đọc, khi nói chuyện, khi gặp ánh sáng mạnh, stress hay lái xe.

- Triệu chứng nhẹ đi khi: trời tối, khi hát hay nhai, khi tập trung vào việc gì đó.

- Mất động tác mở mắt tự chủ (apraxia): giảm thiểu  hoặc  mất khả năng mở mắt có chủ đích.

- Một số trường hợp co quắp mi có thể dẫn tới mù chức năng. Một vài hoạt động thường ngày có thể bị ảnh hưởng như: đọc sách, xem TV, lái xe.

 

4. Nguyên nhân

- Co quắp mi chủ yếu là do những rối loạn chức năng nhưng ngày nay được coi là những biểu hiện rối loạn trương lực cơ xuất phát từ não bộ.

- Cơn kiểu Bravais-Jackson: co thắt cơ vòng mi, tăng tiết nước mắt sau liệt VII.

- Bệnh do thày thuốc gây nên: thuốc chống phân bào, nhóm levodopa…

- Hội chứng Meige hay rối loạn trương lực cơ vùng đầu cổ.

- Các bệnh lý thoái hóa thần kinh: Parkinson, Wilson, Huntington.

- Co quắp phản xạ: do khô mắt, loét giác mạc…

 

5. Chẩn đoán phân biệt và biến chứng

- Điểm mấu chốt để chẩn đoán phân biệt với co cơ mặt: chỉ xảy ra ở một bên, còn co quắp mi xảy ra ở cả hai bên.

- Biến chứng: sa da mi, quặm, lật mi, bất thường về phim nước mắt.

 

6. Xếp loại của Lindeboom

- Độ 0: không có bệnh.

- Độ I: nháy mắt nhiều.   

- Độ II: nháy mắt ngắt quãng, trong thời gian ngắn.

- Độ III: nháy mắt thường xuyên, gây khó chịu cho BN.

- Độ IV: nháy mắt liên tục.

 

7. Tiến triển

- Khỏi tự nhiên: 3%-11%.

- Vẫn tồn tại sau 1 đến 5 năm.

- Mù thoáng qua: 15%.

 

8. Điều trị

- Tiêm Botulinum: độc tố Botulinum  túp A  pha loãng có thể gây liệt tạm thời cơ vòng mi nhờ việc ức chế phân giải Acetylcholine.

- Tiêm 2-5 UI  BOTOX (0,1ml) vào các điểm riêng biệt vùng quanh mắt bên tổn thương. Khoảng 4-6 tháng phải tiêm nhắc lại.

- Kết quả cho thấy: rất tốt 84%, lui giảm 7%, thất bại 9 %.

- Thuốc giãn cơ và thuốc an thần có thể được kê toa nhưng tác dụng còn đang gây tranh cãi: Benzodiazepin, GABAergics.

- Phẫu thuật cắt cơ vòng mi cho tỷ lệ thành công khoảng 70% sau lần phẫu thuật đầu tiên.

- Cắt dây VII chọn lọc, tỷ lệ tái phát là 30%.

 

III. BÀN LUẬN

- Co quắp mi tuy là bệnh hiếm nhưng vẫn có thể gặp và sẽ gặp nhiều do: tuổi thọ tăng, dân trí cao, các nguyên nhân đi khám mắt ngày càng phong phú…

- Co quắp mi cũng là bệnh dễ bị bỏ qua bởi không có gì đặc biệt khi khám mắt, bệnh nhân có thể đến khám thần kinh-lão khoa-nhãn khoa.

- Điều trị thuốc men thường thất bại, dùng BOTOX ở nước ta còn dè dặt, phẫu thuật chỉ thực hiện được ở môi trường nhãn khoa với cân nhắc kỹ lưỡng.

- Chưa có phương pháp điều trị tối ưu do vậy vẫn cần nghiên cứu tiếp.

 

III. KẾT LUẬN

- Co quắp mi, co quắp nửa mặt, hội chứng Meige’s là những bệnh hiếm và mãn tính ở những năm 80, có thể coi là những bệnh “mồ côi” vì không được quan tâm và không có phương pháp chữa trị.

- Ngày nay bệnh được quan tâm hơn, tiêm BOTOX và phẫu thuật có vẻ là những phương thức điều trị có hiệu quả.

 

 

 

 

 

Hình 1. Bệnh nhân bị co quắp mi nặng mặc dù đã đeo kính râm để lóa, chống chói

 

 

 

 

 

 

Hình 2. Khám bằng sinh hiển vi, test Fluor(-), giác mạc và bán phần trước bình thường